Browse » Home » Archives for tháng bảy 2010
Ma quái ngôi miếu 2 lần xây bị đổ
Thứ năm, tháng bảy 29, 2010
0
comments
Chỉ trong chớp mắt cả ngôi miếu bị đổ sụp, những người thợ chưa hết bàng hoàng khi nhìn lên 3 cột trụ bị nổ tung.

Cứ xây xong lại thình lình nổ tung.
Ông Nguyễn Văn Trung quả quyết: "Tôi vẫn đang ngồi bên một cột trụ của của miếu thì có tiếng động rung người. Khi ngẩng mặt lên, ba cột trụ còn lại bỗng nổ tung trong chớp mắt. Gần 30 người thợ ai nấy đều thất kinh"...
Câu chuyện thần thánh, ma quái ở khu đồi sau làng Bích Nham còn được thêu dệt thêm phần kỳ bí bởi cây đa và cây lách cổ thụ đã ngự trị ở đây cả trăm năm.
Theo lời kể của bà Tăng Thị Mức (70 tuổi), người dân thôn Bích Nham, từ khi bà còn nhỏ đã thấy cây đa, cây lách ở đây lớn lắm rồi, cỡ chục người ôm không xuể. Bà Mức bảo: "Hồi đó tôi có hỏi ông nội, cây đa, cây lách ở làng mình bao nhiêu tuổi. Ông xoa đầu tôi nói: từ lúc ông lớn lên cũng thấy có cây này ở đây rồi. Chẳng ai biết được nó bao nhiêu tuổi nữa, nhưng nghe người làng đồn đại tuổi nó cỡ hơn 300 tuổi".
![]()
Một phần thân của cây đa cổ thụ.
Nói rồi, bà dẫn tôi ra chỗ cây đa, cây lách nằm nép bên góc đồi sau làng Bích Nham. Thấy tôi ngạc nhiên ngước nhìn cây đa cao cỡ gần hai chục mét, bà Mức khoát tay: "Trước đây, cây này to gấp 5,7 lần, thanh niên trong làng còn lập cả sân bóng chuyền dưới tán đa. Nhưng không hiểu nguyên nhân gì cây đa cứ mục rỗng dần rồi từ từ lụi, đây chỉ là một cái gốc nhỏ và rễ tả của cây".
Bà Mức cho biết thêm, cách đây vài năm, cây đa này có hai rễ phụ bên tả, bên hữu rất đẹp. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn Quang, là người dân trong làng trong lúc làm móng nhà gần chỗ cây đa đã chặt đi một bên rễ.
"Có nhiều người cho rằng chính vì việc làm này đã khiến dân làng Bích Nham mất lộc. Nếu giữ nguyên cả rễ tả, hữu hẳn đất này đã thịnh lắm", bà Mức thở dài. Về phần anh Quang, bà Mức kể, sau khi chặt một nhánh của cây đa cổ thụ, gia đình anh cũng "liểng xiểng", vợ chồng ly tán. Hiện anh ta đã bỏ vào rừng làm than, sống khép kín, tính tình "dở dở ương ương".
Một điều kỳ lạ khiến dân làng chắc mẩm đây là cây đa thiêng do rễ cây mọc tua tủa, ôm xung quanh cái bàn đá to chừng 6m2.
Về phần cây lách, chính những người dân bản địa cũng khẳng định là chưa từng nhìn thấy loại cây này và cũng không hiểu sao lại có cái tên lạ như vậy. Điều đặc biệt là trong lòng cây lách có tổ ong lớn to cỡ cái thúng, loài ong làm tổ trong thân cây này cũng không ai biết là ong gì. Người ta chỉ kháo nhau đây là loài ong cực độc do có hai đứa trẻ trong làng trèo lên cây bắt tổ chim, vô tình bị ong đốt.
![]()
Loài ong lạ trong thân cây lách.
Nguyễn Văn Khương, một trong hai cậu bé bị đốt vào đùi cho biết, mỗi ngày trở trời em lại thấy đau nhức. Còn Nguyễn Văn Thể bị đốt vào môi thì môi sưng vù như con đỉa, bầm tím 6-7 năm, đến giờ thỉnh thoảng lại đau đớn đến độ không ăn được cơm. Thể cũng được bố mẹ đưa đi chữa trị nhiều lần nhưng chưa khỏi. Từ đó, không đứa trẻ nào dám nghịch dại trèo lên cây đa, cây lách nữa.
Lời đồn về đồi thiêng vang xa, nhiều người dân xã lân cận cũng tìm đến Bích Nham cúng lễ. Có người đem tặng làng một pho tượng thờ. Dân làng bàn nhau xây dựng một miếu nhỏ để bảo quản pho tượng cũng tiện cho việc thờ cúng của bà con quanh vùng.
Tuy nhiên, câu chuyện xây miếu thờ theo lời kể của dân làng cũng nhiều phần "liêu trai". Ông Nguyễn Văn Trung, 81 tuổi, là người trực tiếp phụ trách việc xây miếu thờ, đưa tay quệt mồ hôi kể lại: "Lần thứ nhất tôi và một vài người nữa xây miếu, nhưng khi vừa hoàn thiện thì bỗng nhiên đổ sập xuống. Dân làng cho rằng, tại tôi làm ẩu nên mới xảy ra sự cố.
![]()
Ông Trung và bà Mức kể cho tác giả nghe về hai lần xây miếu của làng.
Đến lần thứ hai, lúc bấy giờ là vào khoảng năm 1969 - 1970, tôi cùng gần 30 người nữa phụ trách xây miếu. Lo sợ sự cố, lần này chúng tôi chọn 2 cây tre cuốn, cột miếu xây 30-20, xi măng tốt. 4 cột xây lên vững chãi, khi ấy tôi ngồi lên một cột để chuẩn bị cho phần xây mái thì bỗng đâu có tiếng động rung người, ngoảnh lại, 3 chiếc cột còn lại đã vỡ tung, gạch đá rơi loảng xoảng. Điều lạ là những người đứng xung quanh không ai bị thương, phích, bát, chén... cũng không hề hấn gì.
Chừng ấy người thất kinh, hoảng hốt. Sau có ông thầy bói đến coi đất và nói rằng: Thánh ở trần, không xây lên được. Hiện tại, pho tượng được dân làng đúc khung tôn nhỏ để bảo quản, dân trong làng cũng không ai nhắc đến việc xây miếu thờ nữa".
![]()
Ngôi miếu lợp tôn của người dân làng Bích Nham.
Ngôi miếu nhỏ mà dân làng gọi là miếu Vóc, trong văn trào của làng có ghi là miếu thờ Đức Thiên quan Đại thần, hiện giao cho bà Mức trông nom, nhang khói. Cứ mỗi dịp rằm, mùng 1 hoặc lễ Tết đều rất nhiều người dân đến lễ tạ, thậm chí cả những người ở Hà Nội nghe tin đồi thiêng cũng tìm về cúng bái. Nhưng đồ lễ tịnh không ai dám động vào hoặc tự ý lấy mang về.
Nghe những câu chuyện và lời đồn đại của dân làng Bích Nham về khu đồi thiêng quả thực rất kỳ bí và khó tin. Cũng có khả năng, một phần câu chuyện là do "tam sao thất bản" mà ra. Tuy nhiên, sự khẳng định "như đinh đóng cột" của nhiều người dân "mắt thấy tai nghe" về các câu chuyện như trên cho thấy ngoài những thông tin "dị bản" có thể có cả nhiều chi tiết là do sự ngẫu nhiên. Cũng có thể, đây là vấn đề tâm linh mà khoa học chưa thể giải thích.

Cứ xây xong lại thình lình nổ tung.
Ông Nguyễn Văn Trung quả quyết: "Tôi vẫn đang ngồi bên một cột trụ của của miếu thì có tiếng động rung người. Khi ngẩng mặt lên, ba cột trụ còn lại bỗng nổ tung trong chớp mắt. Gần 30 người thợ ai nấy đều thất kinh"...
Câu chuyện thần thánh, ma quái ở khu đồi sau làng Bích Nham còn được thêu dệt thêm phần kỳ bí bởi cây đa và cây lách cổ thụ đã ngự trị ở đây cả trăm năm.
Theo lời kể của bà Tăng Thị Mức (70 tuổi), người dân thôn Bích Nham, từ khi bà còn nhỏ đã thấy cây đa, cây lách ở đây lớn lắm rồi, cỡ chục người ôm không xuể. Bà Mức bảo: "Hồi đó tôi có hỏi ông nội, cây đa, cây lách ở làng mình bao nhiêu tuổi. Ông xoa đầu tôi nói: từ lúc ông lớn lên cũng thấy có cây này ở đây rồi. Chẳng ai biết được nó bao nhiêu tuổi nữa, nhưng nghe người làng đồn đại tuổi nó cỡ hơn 300 tuổi".
Một phần thân của cây đa cổ thụ.
Nói rồi, bà dẫn tôi ra chỗ cây đa, cây lách nằm nép bên góc đồi sau làng Bích Nham. Thấy tôi ngạc nhiên ngước nhìn cây đa cao cỡ gần hai chục mét, bà Mức khoát tay: "Trước đây, cây này to gấp 5,7 lần, thanh niên trong làng còn lập cả sân bóng chuyền dưới tán đa. Nhưng không hiểu nguyên nhân gì cây đa cứ mục rỗng dần rồi từ từ lụi, đây chỉ là một cái gốc nhỏ và rễ tả của cây".
Bà Mức cho biết thêm, cách đây vài năm, cây đa này có hai rễ phụ bên tả, bên hữu rất đẹp. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn Quang, là người dân trong làng trong lúc làm móng nhà gần chỗ cây đa đã chặt đi một bên rễ.
"Có nhiều người cho rằng chính vì việc làm này đã khiến dân làng Bích Nham mất lộc. Nếu giữ nguyên cả rễ tả, hữu hẳn đất này đã thịnh lắm", bà Mức thở dài. Về phần anh Quang, bà Mức kể, sau khi chặt một nhánh của cây đa cổ thụ, gia đình anh cũng "liểng xiểng", vợ chồng ly tán. Hiện anh ta đã bỏ vào rừng làm than, sống khép kín, tính tình "dở dở ương ương".
Một điều kỳ lạ khiến dân làng chắc mẩm đây là cây đa thiêng do rễ cây mọc tua tủa, ôm xung quanh cái bàn đá to chừng 6m2.
Về phần cây lách, chính những người dân bản địa cũng khẳng định là chưa từng nhìn thấy loại cây này và cũng không hiểu sao lại có cái tên lạ như vậy. Điều đặc biệt là trong lòng cây lách có tổ ong lớn to cỡ cái thúng, loài ong làm tổ trong thân cây này cũng không ai biết là ong gì. Người ta chỉ kháo nhau đây là loài ong cực độc do có hai đứa trẻ trong làng trèo lên cây bắt tổ chim, vô tình bị ong đốt.
Loài ong lạ trong thân cây lách.
Nguyễn Văn Khương, một trong hai cậu bé bị đốt vào đùi cho biết, mỗi ngày trở trời em lại thấy đau nhức. Còn Nguyễn Văn Thể bị đốt vào môi thì môi sưng vù như con đỉa, bầm tím 6-7 năm, đến giờ thỉnh thoảng lại đau đớn đến độ không ăn được cơm. Thể cũng được bố mẹ đưa đi chữa trị nhiều lần nhưng chưa khỏi. Từ đó, không đứa trẻ nào dám nghịch dại trèo lên cây đa, cây lách nữa.
Lời đồn về đồi thiêng vang xa, nhiều người dân xã lân cận cũng tìm đến Bích Nham cúng lễ. Có người đem tặng làng một pho tượng thờ. Dân làng bàn nhau xây dựng một miếu nhỏ để bảo quản pho tượng cũng tiện cho việc thờ cúng của bà con quanh vùng.
Tuy nhiên, câu chuyện xây miếu thờ theo lời kể của dân làng cũng nhiều phần "liêu trai". Ông Nguyễn Văn Trung, 81 tuổi, là người trực tiếp phụ trách việc xây miếu thờ, đưa tay quệt mồ hôi kể lại: "Lần thứ nhất tôi và một vài người nữa xây miếu, nhưng khi vừa hoàn thiện thì bỗng nhiên đổ sập xuống. Dân làng cho rằng, tại tôi làm ẩu nên mới xảy ra sự cố.
Ông Trung và bà Mức kể cho tác giả nghe về hai lần xây miếu của làng.
Đến lần thứ hai, lúc bấy giờ là vào khoảng năm 1969 - 1970, tôi cùng gần 30 người nữa phụ trách xây miếu. Lo sợ sự cố, lần này chúng tôi chọn 2 cây tre cuốn, cột miếu xây 30-20, xi măng tốt. 4 cột xây lên vững chãi, khi ấy tôi ngồi lên một cột để chuẩn bị cho phần xây mái thì bỗng đâu có tiếng động rung người, ngoảnh lại, 3 chiếc cột còn lại đã vỡ tung, gạch đá rơi loảng xoảng. Điều lạ là những người đứng xung quanh không ai bị thương, phích, bát, chén... cũng không hề hấn gì.
Chừng ấy người thất kinh, hoảng hốt. Sau có ông thầy bói đến coi đất và nói rằng: Thánh ở trần, không xây lên được. Hiện tại, pho tượng được dân làng đúc khung tôn nhỏ để bảo quản, dân trong làng cũng không ai nhắc đến việc xây miếu thờ nữa".
Ngôi miếu lợp tôn của người dân làng Bích Nham.
Ngôi miếu nhỏ mà dân làng gọi là miếu Vóc, trong văn trào của làng có ghi là miếu thờ Đức Thiên quan Đại thần, hiện giao cho bà Mức trông nom, nhang khói. Cứ mỗi dịp rằm, mùng 1 hoặc lễ Tết đều rất nhiều người dân đến lễ tạ, thậm chí cả những người ở Hà Nội nghe tin đồi thiêng cũng tìm về cúng bái. Nhưng đồ lễ tịnh không ai dám động vào hoặc tự ý lấy mang về.
Nghe những câu chuyện và lời đồn đại của dân làng Bích Nham về khu đồi thiêng quả thực rất kỳ bí và khó tin. Cũng có khả năng, một phần câu chuyện là do "tam sao thất bản" mà ra. Tuy nhiên, sự khẳng định "như đinh đóng cột" của nhiều người dân "mắt thấy tai nghe" về các câu chuyện như trên cho thấy ngoài những thông tin "dị bản" có thể có cả nhiều chi tiết là do sự ngẫu nhiên. Cũng có thể, đây là vấn đề tâm linh mà khoa học chưa thể giải thích.
Choáng váng vì đến 'địa ngục' giấy ăn
Thứ năm, tháng bảy 29, 2010
1 comments
Nếu không tận mắt chứng kiến, hẳn ít người tiêu dùng có thể ngờ rằng, đằng sau nhiều loại giấy ăn, giấy vệ sinh trắng bóc, nức mùi thơm đang bán trên thị trường lại là cả một công nghệ sản xuất thiếu vệ sinh đến mức rùng mình.

Người dân đang lấy rác lau miệng hàng ngày vì công nghệ sản xuất giấy 'kinh dị' này.
Những gì “tai nghe mắt thấy” khi chứng kiến công nghệ chế biến giấy ăn, giấy vệ sinh tại các cơ sở sản xuất giấy tại xã Phong Khê (Yên Phong, Bắc Ninh) sẽ khiến không ít người tiêu dùng phải rùng mình, sởn gai ốc.
Nồng nặc xưởng làm giấy
Một ngày tháng 4/2010, chúng tôi về xã Phong Khê (Yên Phong, Bắc Ninh), nơi sản xuất ra đủ các chủng loại giấy từ giấy thùng carton, giấy in, giấy báo, cho tới giấy ăn, giấy vệ sinh, và không khỏi kinh ngạc khi khắp các ngả đường tại xã này luôn nồng nặc mùi tạp chất được thải ra từ những xưởng sản xuất giấy.
Không ngoa khi nhiều người cho rằng nơi đây là một “bãi rác” giấy khổng lồ. Người dân thu mua giấy phế liệu từ khắp các tỉnh, thêm vào đó do điều kiện nhà xưởng thấp kém, chật hẹp nên giấy phế liệu được các chủ sản xuất đắp thành đống từ đầu ngõ vào tận đến vách nhà xưởng.

Nguyên liệu sản xuất giấy vệ sinh "thật dai và mềm mại" chất như... bãi rác thải.
Theo ông Nguyễn Văn Thụ, cán bộ địa chính - xây dựng xã Phong Khê, toàn xã Phong Khê từ xí nghiệp tư nhân cho tới doanh nghiệp, hợp tác xã cổ phần, công ty... có tất cả khoảng 200 đơn vị sản xuất giấy. Trong đó có 50% đơn vị sản xuất giấy ăn, giấy vệ sinh, mỗi xí nghiệp đạt công suất trung bình từ 1 – 2 tấn/ngày. 100% các đơn vị này có giấy phép kinh doanh nhưng tùy theo cấp độ, quy mô sản xuất để phân loại. Phần lớn các xí nghiệp sản xuất giấy tập trung thành khu công nghiệp, chính thức hoạt động năm 2003. Một số hộ gia đình khác kinh doanh tự phát, nhỏ lẻ.
Đi qua những con đường lầy lội, nước tù đọng đen ngòm, chúng tôi tới cơ sở sản xuất giấy của gia đình chị L thuộc khu công nghiệp xã Phong Khê, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Chỉ vài phút nữa thôi, đống giấy lộn lấm lem đất cát này sẽ được đưa vào tái chế.
Trong căn nhà chật chội, ẩm thấp, giấy được bày la liệt, chất đống cao chất ngất. Chúng tôi được “nếm” ngửi thứ mùi chua nồng khó chịu, ầm ì tiếng máy xeo (máy ép giấy), hơi nước bốc mù mịt.
Cảm giác đầu tiên khi bước vào bất kỳ một xí nghiệp sản xuất giấy nào trong khu công nghiệp Phong Khê là sự ngột ngạt, tù túng bởi khói quện lẫn với bụi, mù mịt bao quanh. Tiếp đó là cảm giác về sự ngổn ngang, giấy được vất bừa bãi khắp mọi nơi, mọi chỗ, mọi ngóc ngách, chồng đống từ cao xuống thấp. Giấy thành phẩm đóng gói chỉn chu, xếp hàng thẳng thớm nằm... sát cạnh đống giấy lộn bẩn thỉu. Khoảng cách giữa chúng chỉ là “công nghệ” chế biến giấy được làm theo một dây chuyền giản đơn và tiềm ẩn sự ô nhiễm nghiêm trọng.
Khâu đầu tiên, cũng là khâu quyết định tới chất lượng của sản phẩm là đưa giấy vào máy để xay nghiền. Tuy nhiên, công đoạn này được làm một cách tạm bợ.

Đây là công đoạn giấy bẩn được đưa vào ngâm và nghiền nát.
Nguyên liệu giấy không được chắt lọc cẩn thận mà tạp nham các loại giấy phế thải khác nhau, từ những cuộn giấy vệ sinh bỏ đi, “đầu thừa đuôi cụt” của các xí nghiệp giấy, tới các loại giấy vụn, giấy in, sách báo lem nhem được thu mua từ nhiều nguồn khác nhau.
Nhiều người khi chứng kiến tận mắt đống giấy thải này không khỏi băn khoăn tự hỏi: Liệu có khi nào, nguyên liệu giấy ở đây không ít loại được gom nhặt từ các bãi rác thải?

Tất cả các loại giấy bẩn được nghiền nhuyễn, hòa trộn vào nhau tạo nên một "hợp chất" nhầy nhụa sủi bọt, đen ngòm.
Tại đây, người công nhân chân đất, nồng nặc mùi mồ hôi vẫn giẫm đạp lên đống giấy nhàu nát, luôn tay ôm những chồng giấy bẩn cho vào bể ngâm kiềm. Những bể ngâm giấy mủn rò rỉ thứ nước thải nhớp nháp nền đất. Chiếc máy với khoanh sắt rỉ đóng cục nổi lên từng mảng. Khí Cl2 từ công đoạn tẩy Javen tỏa ra gây mùi khó chịu. Mỗi xưởng như một con quái vật khổng lồ.
Nước thải tù đọng, rác... lềnh phềnh
Chủ cơ sở L cho biết, xí nghiệp của chị đã kinh doanh sản xuất có thâm niên 5 năm, đội ngũ nhân viên có khoảng 10 người làm những công việc chuyên dụng khác nhau, người chuyên đứng nhặt giấy cho vào nghiền, người đứng ở cuối máy chuyên công tác cuộn giấy vào lô, người cắt giấy cùng một vài nhân viên đóng bao bì.

Máy móc rỉ "tiết" ra chất dịch có màu đỏ đặc quánh.
Mỗi ngày, cơ sở sản xuất giấy của gia đình chị L đưa ra ngoài thị trường trên 1 tấn giấy vệ sinh. Chị L cho biết, sản phẩm giấy vệ sinh sau khi chế biến sẽ được phân phối rộng rãi tại các quán ăn, khu công nghiệp, đặc biệt là hệ thống đại lý rộng rãi trên địa bàn Hà Nội.
Tại Phong Khê, một số lượng lớn hộ gia công nhỏ lẻ sản xuất giấy ăn cung cấp đi khắp các tỉnh thành trong cả nước, bán rộng rãi trên thị trường. Từ giấy ăn "thường dân" nhất như "giấy phở" (loại giấy ăn thô ráp, màu trắng đục, hình vuông vẫn thường dùng tại các quán cóc ven đường, quán cơm vỉa hè,...) đến các loại giấy ăn cao cấp đều được "chế biến" bằng công nghệ... nồng nặc như trên.
Anh Nguyễn Quốc An, sinh viên năm thứ 2, trường ĐH Bách Khoa trần tình: "Vẫn biết các giấy ăn tại các nhà ăn tập thể, nhà ăn sinh viên cũng như nhà hàng công cộng không được sạch sẽ, thậm chí chùi miệng lại thấy bẩn và ghê tởm hơn, nhưng đôi khi nó là thói quen, cứ thấy giấy ăn trên bàn thì cầm lấy và đưa lên miệng lau. Chẳng nhẽ ăn xong lại đứng đên, không lau miệng?!".
Nhiều người sau khi sử dụng giấy ăn còn bực tức vì lau xong thì thấy giấy mủn ra, nhoen nhoét khắp quanh miệng.

Qua công đoạn tái chế sơ sài, nhiều loại giấy ăn được hình thành và dù không đảm bảo chất lượng vẫn được sử dụng như bình thường.
Cơ sở giấy Đoàn Chín là một trong những cơ sở sản xuất phôi (lõi giấy to - pv) giấy ăn cao cấp. Từ phôi giấy ăn này, nhiều đơn vị khác lấy về cắt ra thành từng mảnh theo kích thước phù hợp với nhu cầu. Đoàn Chín áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại, lắng lọc sơ bộ và tuần hoàn nước thải an toàn môi trường, tuy nhiên nước từ các bể ngầm vẫn tràn ra nền, đọng từng vũng, bốc mùi chua loét. Con mương phía mé sau nhà anh Đoàn Chín nước đặc kịt, rác thải nổi... lềnh phềnh.

Những tấm bạt che bốc mùi tanh nồng ở cơ sở chế biến giấy ăn Đoàn Chín.

Nước thải tù đọng bốc mùi hôi thối ngay sau nhà xí nghiệp sản xuất giấy Đoàn Chín
Do đặc thù không thống nhất giữa khu công nghiệp tập trung và các xí nghiệp sản xuất giấy tự phát nên xã Phong Khê khó quản lý về việc đảm bảo vệ sinh, môi trường. Ông Nguyễn Văn Thụ thừa nhận: Hiện tại, cả xã Phong Khê vẫn chưa có hệ thống xử lý rác thải tập trung.
Đối với xí nghiệp kinh doanh tự phát, Ủy ban xã yêu cầu tập kết chất thải rắn và nước thải về chung một mối. Đối với khu công nghiệp, xã đã thành lập một đội quản lý gồm 11 người làm công tác đi thu dọn rác thải rắn ven đường, tiêu thông rãnh nước ứ đọng, huy động xe chở rác về khu tập trung. Tuy nhiên, việc đôn đốc người dân thực hiện quy định cũng như việc quản lý, xử phạt vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Các bãi giấy rác vẫn chềnh ềnh bên vệ đường gây mất vệ sinh và phản cảm cho người đi lại, cản trở giao thông thôn xóm.

Các bãi giấy rác vẫn chềnh ềnh bên vệ đường gây mất vệ sinh, phản cảm và cản trở giao thông thôn xóm.
Phần lớn các xưởng giấy trong xã Phong Khê đều không đảm bảo vệ sinh an toàn lao động nên trong quá trình sản xuất đã gây ra một lượng khói bụi khổng lồ, vượt quá tiêu chuẩn cho phép ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân địa phương.
Ngoài ra, trong công nghiệ xeo giấy, để tạo nên một sản phẩm đặc thù hoặc những tính năng đặc thù cho sản phẩm, người ta còn sử dụng nhiều hóa chất và chất xúc tác. Khi chúng tôi hỏi các chủ xí nghiệp thì các nhà sản xuất đều chối rằng cơ sở mình không dùng chất tẩy trắng.
Với câu hỏi “cơ sở sản xuất của chị có sử dụng chất tẩy trắng không”, chị L đã vội vã xua tay, trả lời thẳng thừng “không có”. Thế nhưng, vừa ra tới ngoài sân, tôi có hỏi một nhân viên đang làm việc, anh thật thà nói: “Chắc chắn là phải có rồi. Em nhìn xem, giấy nhập vào thì ô hợp thế kia, còn giấy thành phẩm thì trắng tinh thế này”. Anh nhân viên này tiết lộ, các chất tẩy trắng được cho ngay vào công đoạn đầu tiên để ngâm giấy.

Người dân đang lấy rác lau miệng hàng ngày vì công nghệ sản xuất giấy 'kinh dị' này.
Những gì “tai nghe mắt thấy” khi chứng kiến công nghệ chế biến giấy ăn, giấy vệ sinh tại các cơ sở sản xuất giấy tại xã Phong Khê (Yên Phong, Bắc Ninh) sẽ khiến không ít người tiêu dùng phải rùng mình, sởn gai ốc.
Nồng nặc xưởng làm giấy
Một ngày tháng 4/2010, chúng tôi về xã Phong Khê (Yên Phong, Bắc Ninh), nơi sản xuất ra đủ các chủng loại giấy từ giấy thùng carton, giấy in, giấy báo, cho tới giấy ăn, giấy vệ sinh, và không khỏi kinh ngạc khi khắp các ngả đường tại xã này luôn nồng nặc mùi tạp chất được thải ra từ những xưởng sản xuất giấy.
Không ngoa khi nhiều người cho rằng nơi đây là một “bãi rác” giấy khổng lồ. Người dân thu mua giấy phế liệu từ khắp các tỉnh, thêm vào đó do điều kiện nhà xưởng thấp kém, chật hẹp nên giấy phế liệu được các chủ sản xuất đắp thành đống từ đầu ngõ vào tận đến vách nhà xưởng.

Nguyên liệu sản xuất giấy vệ sinh "thật dai và mềm mại" chất như... bãi rác thải.
Theo ông Nguyễn Văn Thụ, cán bộ địa chính - xây dựng xã Phong Khê, toàn xã Phong Khê từ xí nghiệp tư nhân cho tới doanh nghiệp, hợp tác xã cổ phần, công ty... có tất cả khoảng 200 đơn vị sản xuất giấy. Trong đó có 50% đơn vị sản xuất giấy ăn, giấy vệ sinh, mỗi xí nghiệp đạt công suất trung bình từ 1 – 2 tấn/ngày. 100% các đơn vị này có giấy phép kinh doanh nhưng tùy theo cấp độ, quy mô sản xuất để phân loại. Phần lớn các xí nghiệp sản xuất giấy tập trung thành khu công nghiệp, chính thức hoạt động năm 2003. Một số hộ gia đình khác kinh doanh tự phát, nhỏ lẻ.
Đi qua những con đường lầy lội, nước tù đọng đen ngòm, chúng tôi tới cơ sở sản xuất giấy của gia đình chị L thuộc khu công nghiệp xã Phong Khê, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Chỉ vài phút nữa thôi, đống giấy lộn lấm lem đất cát này sẽ được đưa vào tái chế.
Trong căn nhà chật chội, ẩm thấp, giấy được bày la liệt, chất đống cao chất ngất. Chúng tôi được “nếm” ngửi thứ mùi chua nồng khó chịu, ầm ì tiếng máy xeo (máy ép giấy), hơi nước bốc mù mịt.
Cảm giác đầu tiên khi bước vào bất kỳ một xí nghiệp sản xuất giấy nào trong khu công nghiệp Phong Khê là sự ngột ngạt, tù túng bởi khói quện lẫn với bụi, mù mịt bao quanh. Tiếp đó là cảm giác về sự ngổn ngang, giấy được vất bừa bãi khắp mọi nơi, mọi chỗ, mọi ngóc ngách, chồng đống từ cao xuống thấp. Giấy thành phẩm đóng gói chỉn chu, xếp hàng thẳng thớm nằm... sát cạnh đống giấy lộn bẩn thỉu. Khoảng cách giữa chúng chỉ là “công nghệ” chế biến giấy được làm theo một dây chuyền giản đơn và tiềm ẩn sự ô nhiễm nghiêm trọng.
Khâu đầu tiên, cũng là khâu quyết định tới chất lượng của sản phẩm là đưa giấy vào máy để xay nghiền. Tuy nhiên, công đoạn này được làm một cách tạm bợ.

Đây là công đoạn giấy bẩn được đưa vào ngâm và nghiền nát.
Nguyên liệu giấy không được chắt lọc cẩn thận mà tạp nham các loại giấy phế thải khác nhau, từ những cuộn giấy vệ sinh bỏ đi, “đầu thừa đuôi cụt” của các xí nghiệp giấy, tới các loại giấy vụn, giấy in, sách báo lem nhem được thu mua từ nhiều nguồn khác nhau.
Nhiều người khi chứng kiến tận mắt đống giấy thải này không khỏi băn khoăn tự hỏi: Liệu có khi nào, nguyên liệu giấy ở đây không ít loại được gom nhặt từ các bãi rác thải?

Tất cả các loại giấy bẩn được nghiền nhuyễn, hòa trộn vào nhau tạo nên một "hợp chất" nhầy nhụa sủi bọt, đen ngòm.
Tại đây, người công nhân chân đất, nồng nặc mùi mồ hôi vẫn giẫm đạp lên đống giấy nhàu nát, luôn tay ôm những chồng giấy bẩn cho vào bể ngâm kiềm. Những bể ngâm giấy mủn rò rỉ thứ nước thải nhớp nháp nền đất. Chiếc máy với khoanh sắt rỉ đóng cục nổi lên từng mảng. Khí Cl2 từ công đoạn tẩy Javen tỏa ra gây mùi khó chịu. Mỗi xưởng như một con quái vật khổng lồ.
Nước thải tù đọng, rác... lềnh phềnh
Chủ cơ sở L cho biết, xí nghiệp của chị đã kinh doanh sản xuất có thâm niên 5 năm, đội ngũ nhân viên có khoảng 10 người làm những công việc chuyên dụng khác nhau, người chuyên đứng nhặt giấy cho vào nghiền, người đứng ở cuối máy chuyên công tác cuộn giấy vào lô, người cắt giấy cùng một vài nhân viên đóng bao bì.

Máy móc rỉ "tiết" ra chất dịch có màu đỏ đặc quánh.
Mỗi ngày, cơ sở sản xuất giấy của gia đình chị L đưa ra ngoài thị trường trên 1 tấn giấy vệ sinh. Chị L cho biết, sản phẩm giấy vệ sinh sau khi chế biến sẽ được phân phối rộng rãi tại các quán ăn, khu công nghiệp, đặc biệt là hệ thống đại lý rộng rãi trên địa bàn Hà Nội.
Tại Phong Khê, một số lượng lớn hộ gia công nhỏ lẻ sản xuất giấy ăn cung cấp đi khắp các tỉnh thành trong cả nước, bán rộng rãi trên thị trường. Từ giấy ăn "thường dân" nhất như "giấy phở" (loại giấy ăn thô ráp, màu trắng đục, hình vuông vẫn thường dùng tại các quán cóc ven đường, quán cơm vỉa hè,...) đến các loại giấy ăn cao cấp đều được "chế biến" bằng công nghệ... nồng nặc như trên.
Anh Nguyễn Quốc An, sinh viên năm thứ 2, trường ĐH Bách Khoa trần tình: "Vẫn biết các giấy ăn tại các nhà ăn tập thể, nhà ăn sinh viên cũng như nhà hàng công cộng không được sạch sẽ, thậm chí chùi miệng lại thấy bẩn và ghê tởm hơn, nhưng đôi khi nó là thói quen, cứ thấy giấy ăn trên bàn thì cầm lấy và đưa lên miệng lau. Chẳng nhẽ ăn xong lại đứng đên, không lau miệng?!".
Nhiều người sau khi sử dụng giấy ăn còn bực tức vì lau xong thì thấy giấy mủn ra, nhoen nhoét khắp quanh miệng.

Qua công đoạn tái chế sơ sài, nhiều loại giấy ăn được hình thành và dù không đảm bảo chất lượng vẫn được sử dụng như bình thường.
Cơ sở giấy Đoàn Chín là một trong những cơ sở sản xuất phôi (lõi giấy to - pv) giấy ăn cao cấp. Từ phôi giấy ăn này, nhiều đơn vị khác lấy về cắt ra thành từng mảnh theo kích thước phù hợp với nhu cầu. Đoàn Chín áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại, lắng lọc sơ bộ và tuần hoàn nước thải an toàn môi trường, tuy nhiên nước từ các bể ngầm vẫn tràn ra nền, đọng từng vũng, bốc mùi chua loét. Con mương phía mé sau nhà anh Đoàn Chín nước đặc kịt, rác thải nổi... lềnh phềnh.

Những tấm bạt che bốc mùi tanh nồng ở cơ sở chế biến giấy ăn Đoàn Chín.

Nước thải tù đọng bốc mùi hôi thối ngay sau nhà xí nghiệp sản xuất giấy Đoàn Chín
Do đặc thù không thống nhất giữa khu công nghiệp tập trung và các xí nghiệp sản xuất giấy tự phát nên xã Phong Khê khó quản lý về việc đảm bảo vệ sinh, môi trường. Ông Nguyễn Văn Thụ thừa nhận: Hiện tại, cả xã Phong Khê vẫn chưa có hệ thống xử lý rác thải tập trung.
Đối với xí nghiệp kinh doanh tự phát, Ủy ban xã yêu cầu tập kết chất thải rắn và nước thải về chung một mối. Đối với khu công nghiệp, xã đã thành lập một đội quản lý gồm 11 người làm công tác đi thu dọn rác thải rắn ven đường, tiêu thông rãnh nước ứ đọng, huy động xe chở rác về khu tập trung. Tuy nhiên, việc đôn đốc người dân thực hiện quy định cũng như việc quản lý, xử phạt vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Các bãi giấy rác vẫn chềnh ềnh bên vệ đường gây mất vệ sinh và phản cảm cho người đi lại, cản trở giao thông thôn xóm.

Các bãi giấy rác vẫn chềnh ềnh bên vệ đường gây mất vệ sinh, phản cảm và cản trở giao thông thôn xóm.
Phần lớn các xưởng giấy trong xã Phong Khê đều không đảm bảo vệ sinh an toàn lao động nên trong quá trình sản xuất đã gây ra một lượng khói bụi khổng lồ, vượt quá tiêu chuẩn cho phép ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân địa phương.
Ngoài ra, trong công nghiệ xeo giấy, để tạo nên một sản phẩm đặc thù hoặc những tính năng đặc thù cho sản phẩm, người ta còn sử dụng nhiều hóa chất và chất xúc tác. Khi chúng tôi hỏi các chủ xí nghiệp thì các nhà sản xuất đều chối rằng cơ sở mình không dùng chất tẩy trắng.
Với câu hỏi “cơ sở sản xuất của chị có sử dụng chất tẩy trắng không”, chị L đã vội vã xua tay, trả lời thẳng thừng “không có”. Thế nhưng, vừa ra tới ngoài sân, tôi có hỏi một nhân viên đang làm việc, anh thật thà nói: “Chắc chắn là phải có rồi. Em nhìn xem, giấy nhập vào thì ô hợp thế kia, còn giấy thành phẩm thì trắng tinh thế này”. Anh nhân viên này tiết lộ, các chất tẩy trắng được cho ngay vào công đoạn đầu tiên để ngâm giấy.
Tại Hà Nội, làng Trích Sài (phường Bưởi, Tây Hồ) là một trong những nơi chuyên cung cấp “giấy phở” nổi tiếng. Làng có hơn 100 hộ dân làm nghề tái chế giấy ăn, xuất 3 - 10 tấn/tháng đổ ra cho các nhà hàng, quán ăn. Xeo giấy nhập về để lăn lóc dưới nền nhà ẩm ướt, giấy ăn thành phẩm cũng chỉ được cho vào bao tải khi có khách gọi, chưa kể, xấp giấy thành phẩm có màu trắng đục, khi lắc, vô số hạt bụi bay ra.
Các chuyên gia về y tế nhấn mạnh rằng: Bụi giấy ở các loại giấy ăn chất lượng kém sẽ xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp. Hóa chất chống ẩm và màu công nghiệp khi tiếp xúc với da có thể gây dị ứng khi kết hợp với sự bài tiết của mồ hôi. Nguy hiểm hơn, khi dùng giấy lau miệng, những hóa chất này sẽ xâm nhập vào cơ thể, về lâu dài có thể gây ung thư.
Ngoài ra, các hộ làm giấy ăn thủ công ở làng Trích Sài cho biết: Để tẩy trắng một tấn giấy phế liệu cần 9kg sút và 30 - 40l javen. Hai loại hóa chất này đòi hỏi quy trình sản xuất nghiêm ngặt. Theo tiêu chuẩn quốc tế, nồng độ cho phép trong nước của xút và javen là dưới 0,3mg/l.
Theo các chuyên gia về hóa học: Nếu xử lý đúng quy trình, lượng xút và javen trong giấy ăn thành phẩm hầu như không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Tuy nhiên, nếu vượt quá mức cho phép, lượng hoá chất tồn dư có thể gây kích ứng da và trở thành “ổ” bệnh về đường tiêu hóa như tiêu chảy, rộp môi… đối với người mẫn cảm”.
Hành trình "lửa": Mafia cầy tơ Thái - Việt
Thứ năm, tháng bảy 29, 2010
0
comments
Mafia thịt chó là tựa đề của loạt phóng sự của nhà báo Mỹ Patrick Winn được đăng tải trên mạng tin tức Global Post cuối tháng qua.

Buôn cầy tơ như mafia.
Phóng sự kể lại từ Thái Lan những chú chó được hóa kiếp thành món ngon trong các quán cầy tơ ở Việt Nam như thế nào. Có cả đường dây theo kiểu mafia để đưa chó chót lọt qua biên giới.
Một buổi trưa nắng gắt trên vỉa hề đầy bụi bặm, người bán hàng nhễ nhại mồ hôi vừa thoăn thoắt xẻ thịt thành từng miếng xếp gọn vào thùng kín có đá vừa cất tiếng reo dỏe quánh: “Thịt ngon, thịt ngon giá rẻ đây!” Ngồi nghỉ mệ, chị vui vẻ tiết lộ không chút ngần ngại: “Thịt chó thả rông cả đấy”.
Gần đây, tỉnh Ta Rae, Thái Lan nổi lên phong trào buôn chó và làm thịt chó. Ta Rae trở thành trung tâm đầu não trong đường dây buôn bán thịt chó tại khu vực Đông Nam Á. Vùng đất vốn thanh bình này là nguồn cung cấp chó vô tận, cho Việt Nam, đặc biệt ở các tỉnh phía Bắc, nơi thịt chó cung không đủ cầu.
Người Việt đem món cầy tơ qua Thái từ thế kỷ 18
Vào thế kỷ 18, một số người Công giáo gốc Việt đến đây lập nghiệp, mang theo món cầy tơ khoái khẩu. Cha xứ Somkiat Pholchangwang, người cai quản giáo xứ lớn nhất ở đây, thở dài: “Chúng tôi tha thứ những ai lỡ ăn thịt chó và ngành xuất khẩu chó nữa, vì nếu không dựa vào đấy, dân xứ này biết làm gì để sống”.

Thịt chó là món khoái khẩu của phái mạnh.
Giờ đây, nghề bắt chó dế kiếm ăn, hấp dẫn hơn nghề “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nhiều. Chẳng trách nhiều giáo dân của cha xứ Pholchangwang cũng tích cực tham gia nghề lái cẩu dù không hề đụng đũa đến món này. Thậm chí nhiều người còn phất lên, đổi đời nhanh chóng nhờ có chân trong tập đoàn lái cẩu. Có người mua được cả chục chiếc xe hơi nhờ nghề lái cẩu.
Vừa có tiền, vừa an toàn cho con cháu
Không dám nói tên thật vì sợ đại ca trừng trị, Wit, ông chủ một bãi chó, thừa nhận đây là nghề béo bở, hái ra tiền dễ dàng. Ở đây, chó lang thang khắp làng mạc, đường sá. Wit và thủ hạ phân tán khắp nơi bắt số chó thẳ rông này lên xe tài, chở đến biên giới Thái – Lào bên dòng sông Mekong.
Ngày ngày, đội quân săn chó rảo khắp hang cùng ngõ hẻm. Nông dân nghèo đổi những chú cẩu vô chủ lấy thau, chậu nhưa hay số tiền nhỏ. Nghe tiếng rao trên loa phóng thanh nhiều người nhanh nhảu chạy ra mặc cả. Bà Nan Nantagalik, 61 tuổi, cư dân ở Ta Rae: “Đằng nào chúng tôi cũng cần tống khứ mấy con chó hay cắn lũ trẻ”.
Số chó khỏe mạnh, béo mập nhất sẽ được nhanh chóng đưa sang Việt Nam, nơi một chú cẩu ưng ý có thể đuộc hét giá tới 60 USD. Còn thịt thứ phẩm thì được chế biến ngay tại Thái Lan, không khác gì món thịt bò khô được bày bán ê hề khắp nơi.
Mafia chó
Hàng đêm, chừng 1.000 chú cẩu đuộc bí mật vận chuyển qua Lào rồi đưa về lò mổ ở Hà Nội. Theo nguồn tin từ cảnh sát, quan chức và chính giới buôn lậu, mỗi tháng, số chó xuất khẩu không dưới 30.000 con. Về mùa đông, nhu cầu tiêu thụ còn tăng lên vì người ta tin rằng ăn thịt chó làm ấm người.
Không lệ phí, không thủ tục hải quan, không kiểm tra giấy phép. Mới đây, ông Phumpat Pachonsap, đại biểu tỉnh Nakhon Phanom vừa kiến nghị quốc hội xem xét vấn nạn này: sự tàn bạo với động vật, nguy cơ lan tràn bệnh dại, buôn lậu tràn lan không kiểm soát nổi, thậm chí mùi thiu thối nữa.
Song ông toàn vấp phải sự thờ ơ, thậm chí đe dọa của các chính trị giá khác. Phumpat chua chat: “Quan chức địa phương, cảnh sát không rat ay vì nhận hối lộ cả rồi. Họ thật dối trá. Toàn bộ đường dây xuất khẩu chó này của mafia cả đấy”.
Trong cơn say ngà ngà, Wit thổ lộ: “Chúng tôi phải biếu tiền để cảnh sát làm ngờ”. Dù bị xã hội rẻ rúng, làm thịt và ăn chó không bị coi là vi phạm pháp luật.Giới buôn lậu chó khi bị bắt chỉ bị kết tội gây ồn ào, vận chuyển động vật chưa tiêm vawcsxin, nặng lắm là buôn lậu xuyên biên giới. Thế nhưng mọi tội trạng đều được làm ngơ. Một quan chức giấu tên cho hay địa thế ngôi làng rất lý tưởng cho các “trùm cẩu” vì nằm sát biên giới Lào. Có điểu phải chi tiền không ít mới được yên ổn làm ăn.
Cứ mỗi con chó chở qua biên giới, cánh buôn lậu phải lót tay 25 baht cho viên chức địa phương để chia chác cho nhiều cấp khác nhau. Cảnh sát hay hải quan đều xem đây chẳng qua là hạt cát bỏ biển so với tội danh khác như buôn thuốc phiện hay nhâp cư lậu. Ma túy hủy hoại đời sống con người, dân nhập cư cướp công ăn việc làm của người bản địa chứ chó hoang thì ảnh hưởng gì? Thậm chí xã trưởng Baan Pehng còn so sánh nghề xuất khẩu chó với bán rác cho nước ngoài. Buôn chó chẳng mất mát gì.
Tống khứ rác rưởi, bệnh dại qua Việt Nam
Cảnh sát và giới chính trị gia chẳng thích dính vào đây. Nếu ai đó thay họ bắt chó, những con vật vô thừa nhận, thủ phạm làm bệnh dại lan tràn thì càng tốt, càng bớt đi gánh nặng cho mọi người, mọi nhà.
Theo kết quả thăm dò ý kiến tại xứ xở nơi mà phần lớn người dân theo đạo Phật, 90% người Thái cực lực phản đối chuyện ăn thịt chó, xem nghề buôn bán thịt chó (tiếng Thái là Maa Grabong) là tàn ác và cần bị trấn áp.
Nhưng nếu đưa chó hoang vào trại, tiền thức ăn hàng ngày cho chúng không dưới 300 USD/trại, tương đương với một tháng lương công nhân tịa vùng Đông Bắc Thái Lan. Chẳng cấp chính quyền hay người dân nào chịu bỏ tiền thuê ra nuôi chó cả.
Và như thế, các đường dây mafia cẩu tiếp tục hoạt động. Một cách nào đó những đường dây này giúp Thái Lan chuyển dịch bệnh và cho hoang qua Việt Nam.

Buôn cầy tơ như mafia.
Phóng sự kể lại từ Thái Lan những chú chó được hóa kiếp thành món ngon trong các quán cầy tơ ở Việt Nam như thế nào. Có cả đường dây theo kiểu mafia để đưa chó chót lọt qua biên giới.
Một buổi trưa nắng gắt trên vỉa hề đầy bụi bặm, người bán hàng nhễ nhại mồ hôi vừa thoăn thoắt xẻ thịt thành từng miếng xếp gọn vào thùng kín có đá vừa cất tiếng reo dỏe quánh: “Thịt ngon, thịt ngon giá rẻ đây!” Ngồi nghỉ mệ, chị vui vẻ tiết lộ không chút ngần ngại: “Thịt chó thả rông cả đấy”.
Gần đây, tỉnh Ta Rae, Thái Lan nổi lên phong trào buôn chó và làm thịt chó. Ta Rae trở thành trung tâm đầu não trong đường dây buôn bán thịt chó tại khu vực Đông Nam Á. Vùng đất vốn thanh bình này là nguồn cung cấp chó vô tận, cho Việt Nam, đặc biệt ở các tỉnh phía Bắc, nơi thịt chó cung không đủ cầu.
Người Việt đem món cầy tơ qua Thái từ thế kỷ 18
Vào thế kỷ 18, một số người Công giáo gốc Việt đến đây lập nghiệp, mang theo món cầy tơ khoái khẩu. Cha xứ Somkiat Pholchangwang, người cai quản giáo xứ lớn nhất ở đây, thở dài: “Chúng tôi tha thứ những ai lỡ ăn thịt chó và ngành xuất khẩu chó nữa, vì nếu không dựa vào đấy, dân xứ này biết làm gì để sống”.

Thịt chó là món khoái khẩu của phái mạnh.
Giờ đây, nghề bắt chó dế kiếm ăn, hấp dẫn hơn nghề “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nhiều. Chẳng trách nhiều giáo dân của cha xứ Pholchangwang cũng tích cực tham gia nghề lái cẩu dù không hề đụng đũa đến món này. Thậm chí nhiều người còn phất lên, đổi đời nhanh chóng nhờ có chân trong tập đoàn lái cẩu. Có người mua được cả chục chiếc xe hơi nhờ nghề lái cẩu.
Vừa có tiền, vừa an toàn cho con cháu
Không dám nói tên thật vì sợ đại ca trừng trị, Wit, ông chủ một bãi chó, thừa nhận đây là nghề béo bở, hái ra tiền dễ dàng. Ở đây, chó lang thang khắp làng mạc, đường sá. Wit và thủ hạ phân tán khắp nơi bắt số chó thẳ rông này lên xe tài, chở đến biên giới Thái – Lào bên dòng sông Mekong.
Ngày ngày, đội quân săn chó rảo khắp hang cùng ngõ hẻm. Nông dân nghèo đổi những chú cẩu vô chủ lấy thau, chậu nhưa hay số tiền nhỏ. Nghe tiếng rao trên loa phóng thanh nhiều người nhanh nhảu chạy ra mặc cả. Bà Nan Nantagalik, 61 tuổi, cư dân ở Ta Rae: “Đằng nào chúng tôi cũng cần tống khứ mấy con chó hay cắn lũ trẻ”.
Số chó khỏe mạnh, béo mập nhất sẽ được nhanh chóng đưa sang Việt Nam, nơi một chú cẩu ưng ý có thể đuộc hét giá tới 60 USD. Còn thịt thứ phẩm thì được chế biến ngay tại Thái Lan, không khác gì món thịt bò khô được bày bán ê hề khắp nơi.
Mafia chó
Hàng đêm, chừng 1.000 chú cẩu đuộc bí mật vận chuyển qua Lào rồi đưa về lò mổ ở Hà Nội. Theo nguồn tin từ cảnh sát, quan chức và chính giới buôn lậu, mỗi tháng, số chó xuất khẩu không dưới 30.000 con. Về mùa đông, nhu cầu tiêu thụ còn tăng lên vì người ta tin rằng ăn thịt chó làm ấm người.
Không lệ phí, không thủ tục hải quan, không kiểm tra giấy phép. Mới đây, ông Phumpat Pachonsap, đại biểu tỉnh Nakhon Phanom vừa kiến nghị quốc hội xem xét vấn nạn này: sự tàn bạo với động vật, nguy cơ lan tràn bệnh dại, buôn lậu tràn lan không kiểm soát nổi, thậm chí mùi thiu thối nữa.
Song ông toàn vấp phải sự thờ ơ, thậm chí đe dọa của các chính trị giá khác. Phumpat chua chat: “Quan chức địa phương, cảnh sát không rat ay vì nhận hối lộ cả rồi. Họ thật dối trá. Toàn bộ đường dây xuất khẩu chó này của mafia cả đấy”.
Trong cơn say ngà ngà, Wit thổ lộ: “Chúng tôi phải biếu tiền để cảnh sát làm ngờ”. Dù bị xã hội rẻ rúng, làm thịt và ăn chó không bị coi là vi phạm pháp luật.Giới buôn lậu chó khi bị bắt chỉ bị kết tội gây ồn ào, vận chuyển động vật chưa tiêm vawcsxin, nặng lắm là buôn lậu xuyên biên giới. Thế nhưng mọi tội trạng đều được làm ngơ. Một quan chức giấu tên cho hay địa thế ngôi làng rất lý tưởng cho các “trùm cẩu” vì nằm sát biên giới Lào. Có điểu phải chi tiền không ít mới được yên ổn làm ăn.
Cứ mỗi con chó chở qua biên giới, cánh buôn lậu phải lót tay 25 baht cho viên chức địa phương để chia chác cho nhiều cấp khác nhau. Cảnh sát hay hải quan đều xem đây chẳng qua là hạt cát bỏ biển so với tội danh khác như buôn thuốc phiện hay nhâp cư lậu. Ma túy hủy hoại đời sống con người, dân nhập cư cướp công ăn việc làm của người bản địa chứ chó hoang thì ảnh hưởng gì? Thậm chí xã trưởng Baan Pehng còn so sánh nghề xuất khẩu chó với bán rác cho nước ngoài. Buôn chó chẳng mất mát gì.
Tống khứ rác rưởi, bệnh dại qua Việt Nam
Cảnh sát và giới chính trị gia chẳng thích dính vào đây. Nếu ai đó thay họ bắt chó, những con vật vô thừa nhận, thủ phạm làm bệnh dại lan tràn thì càng tốt, càng bớt đi gánh nặng cho mọi người, mọi nhà.
Theo kết quả thăm dò ý kiến tại xứ xở nơi mà phần lớn người dân theo đạo Phật, 90% người Thái cực lực phản đối chuyện ăn thịt chó, xem nghề buôn bán thịt chó (tiếng Thái là Maa Grabong) là tàn ác và cần bị trấn áp.
Nhưng nếu đưa chó hoang vào trại, tiền thức ăn hàng ngày cho chúng không dưới 300 USD/trại, tương đương với một tháng lương công nhân tịa vùng Đông Bắc Thái Lan. Chẳng cấp chính quyền hay người dân nào chịu bỏ tiền thuê ra nuôi chó cả.
Và như thế, các đường dây mafia cẩu tiếp tục hoạt động. Một cách nào đó những đường dây này giúp Thái Lan chuyển dịch bệnh và cho hoang qua Việt Nam.
Vịt chết - trứng ung để làm gì?
Thứ năm, tháng bảy 29, 2010
0
comments
Không lâu sau vụ rộ lên tin đồn vịt chết biến thành vit lộn ở Trung Quốc, không ít người dân Việt Nam đặt câu hỏi rằng trứng ung, vịt chết ở các lò ấp dùng để làm gì?

Trứng tại các lò ấp đang được kiểm tra.
Bảo quản trứng bằng nước sôi và hoá chất
Trước đây, nhiều lò ấp trứng ở Đại Xuyên (Hà Tây cũ) hay Đông Phan (Hải Dương) và một số nơi khác, chủ yếu dùng công nghệ thủ công với các lò ấp được xây bằng gạch ở trong nhà. Dùng trấu, thóc rang để giữ nhiệt hun cho trứng vịt chuyển thành bào thai (vịt lộn) hoặc ấp nở thành vịt giống.
Ngày nay, với công nghệ hiện đại, các lò ấp đã sử dụng máy ấp công nghệ rơ-le điện tử. Số lượng trứng ấp trong lò này nhiều hơn, độ chính xác cao hơn, lãi lớn hơn.
Đại Xuyên (Phú Xuyên - Hà Nội) được coi là "đại bản doanh" của vịt, ngan giống. Nơi đây có hàng trăm lò ấp, vịt giống, vịt lộn cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh. ông Nguyễn Văn Hùng, một chủ lò ấp trứng cho biết: Nghề ấp trứng cho thu nhập cao nhưng cũng lắm rủi ro, bấp bênh. Quả trứng lộn thương phẩm có tuổi thọ không dài, chỉ ngon từ độ 17-22 ngày trong quy trình ấp nở.
Bởi vậy, giá trứng luôn luôn trồi sụt không ngừng theo thời tiết. Ngày nắng ráo, lượng tiêu thụ lớn, giá trứng lộn có thể nhảy vọt đến 2.500 đồng/trứng và các lò ấp không đủ hàng để cung cấp cho các thương lái. Tuy nhiên, mỗi khi trời sụt sùi mưa bão thì nhà lò chỉ còn nước bán đổ bán tháo trứng với giá rất thấp.

Lò ấp đang kiểm tra trứng.
Chính vì lẽ đó, các chủ lò ấp đã nghĩ ra nhiều cách để bảo quản trứng. Vào hè, nắng nóng, nhiệt độ cao, trứng non rất nhanh hỏng và trứng già sẽ nở thành con. Khi chúng tôi nói cũng muốn mua nhiều trứng lộn cung cấp cho một số quán ở Hà Nội, mỗi ngày khoảng 800-1.000 quả thì ông Hùng mừng lắm.
Tuy nhiên, với thời tiết như hiện nay, nếu giao trứng không hết, để lại dễ hỏng lắm. Thấy chúng tôi còn băn khoăn, chị Nguyễn Thị Là, một công nhân làm thuê khoe luôn: "Lo gì, thời tiết nào chẳng có cách bảo quản. Cứ luộc lên, cho vào hộp lạnh, người bán đem ra luộc lại, khách đố mà biết được. Giữ như vậy được cả tháng...".
Qua tìm hiểu ở nhiều chủ lò, chúng tôi được biết cách phổ biến là các chủ lò trứng luộc lên rồi để lạnh, sau đó giao trứng giá hạ hơn cho người mua về luộc bán lẻ. Ham lời nên không ít hàng trứng lẻ vẫn lấy trứng luộc trước về luộc lại để bán. Số lượng trứng vịt lộn luộc này khá nhiều, bởi hiện nay không trúng vào vụ nuôi vịt. Thậm chí, với những lò ấp vịt nở, số trứng loại ra do bị hỏng ở từng giai đoạn vẫn có người mua với giá bằng 80% trứng nhập vào lò.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Lâm (Viện Dinh dưỡng Trung ương) cho biết: Người ăn trứng vịt lộn luộc lại sẽ dễ bị chướng bụng, đầy hơi, có thể gây đau bụng. Khi trứng đã luộc mà công tác bảo quản không được tốt rất có thể khiến các vi khuẩn xâm nhập vào, người sử dụng sẽ bị ảnh hưởng đến sức khoẻ.
Chuyện bảo quản trứng vịt lộn vẫn còn là những bí mật của các chủ lò và thương lái.
Tình cờ tôi biết cô Nguyễn Thị Hồng, người bỏ nghề ấp trứng đi làm giúp việc kể lại: Ngày ấy, cô còn làm trong lò ấp trứng ở Nguyên Khê (Đông Anh). Mỗi một mẻ trứng vịt lộn ra lò, nếu được thương lái lấy luôn chỉ xếp hàng vào thúng là xong. Nhưng những ngày ế ẩm, trứng đã ra lò, thường được chủ lò ngâm vào một thùng nước pha hoá chất gì đó.
Thứ nước đó sờ tay vào thấy nhớt như xà phòng, mùi hơi hắc. Khi lấy trứng ra, người làm phải đeo găng tay nếu không tay sẽ bị khô nứt. Cô Hồng bảo, ngâm như vậy có thể để trứng thêm được 4-5 ngày, đảm bảo nếu lô trứng chưa bán kịp sẽ không bị nở con hoặc ung hỏng. Không biết việc ngâm hoá chất có độc hại gì không, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, sau khi không còn làm ở lò ấp, cô Hồng cũng không dám ăn trứng vịt lộn.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Lâm (Viện Dinh dưỡng Trung ương) cho biết: Người ăn trứng vịt lộn luộc lại sẽ dễ bị chướng bụng, đầy hơi, có thể gây đau bụng. Khi trứng đã luộc mà công tác bảo quản không được tốt rất có thể khiến các vi khuẩn xâm nhập vào, người sử dụng sẽ bị ảnh hưởng đến sức khoẻ.
Trứng hỏng, vịt chết vẫn chạy hàng
Trước thông tin Trung Quốc có công nghệ sản xuất trứng vịt lộn bằng gà vịt chếởt, trứng ung, thối thì người tiêu dùng Việt Nam cũng thấy hoang mang, mặc dù đã có thông tin khẳng định loại trứng vịt lộn rởm này chưa vào Việt Nam. Theo các chuyên gia thị trường, việc hàng mang loại "hàng" này từ Trung Quốc sang Việt Nam cũng không khả thi vì chi phí bảo quản và vận chuyển không rẻ, lợi nhuận không đủ hấp dẫn thương lái vào cuộc. Tuy nhiên, nhiều người lo ngại "công nghệ" của Tàu lây sang mình nhanh lắm...
Theo cô Hồng thì các lò ấp không bao giờ phải bỏ thứ gì. Trứng ung cũng có người mua, vịt chết cũng bán, số lượng bao nhiêu thương lái cũng mua. Cô kể lại, ngày còn làm ở lò ấp, món ăn thường ngày của công nhân là trứng vịt lộn luộc, rán giòn và vịt bao tử tẩm ướp rán. Nói là vịt bao tử cho sang thôi, thực chất nó là những con vịt con bị loại vì những khuyết tật, không đủ sức khoẻ để xuất cho người nuôi. Những con vịt này bị cho vào chậu nước nóng già, một lát sau cho đũa vào quấy lên, lông tơ rơi ra hết. Lấy tay bóp nhẹ ruột, cho húng lìu, gia vị, lá chanh... vào ướp một lát cho lên bếp rán giòn là thành món thơm ngon, hấp dẫn!
Số vịt con chết chủ lò cũng không phải bỏ đi một con nào. Cứ 200-300 đồng một con nhặt thành từng hộp, ghi số lượng có người mua hết. Ban đầu thương lái cứ đến mua cả lông đóng hộp xốp mang đi, sau này, cánh cô Hồng lại phải cho vào nước sôi, giũa lông đóng hộp giữ lạnh. Khi được số lượng kha khá thì thương lái đến mua. Mãi về sau, cô Hồng mới biết, số vịt chết ấy người ta mang đi chặt đầu, chặt mỏ tẩm ướp để bán ra ngoài cho người tiêu dùng với cái tên mới: chim sẻ đồng.
Hiện nay, với sự cảnh báo của báo chí, món "chim sẻ đồng" rán vàng rộm giá 2.000 đồng/con không còn dễ dàng đánh lừa được người tiêu dùng. Vậy nhưng, các lò ấp vẫn tiêu thụ hết các loại phế phẩm, điều này khiến không ít người thắc mắc, lo lắng về khả năng xuất hiện thêm một công nghệ quay vòng phế phẩm để tiếp tục đánh lừa người tiêu dùng.
Nhiều món khoái khẩu được làm từ trứng vịt lộn như trứng vịt lộn rang me, trứng vịt lộn chiên giòn...,người ăn chỉ biết đĩa thực phẩm mang ra thơm phức, ai biết được nó được làm bằng trứng tươi hay trứng rởm?

Trứng tại các lò ấp đang được kiểm tra.
Bảo quản trứng bằng nước sôi và hoá chất
Trước đây, nhiều lò ấp trứng ở Đại Xuyên (Hà Tây cũ) hay Đông Phan (Hải Dương) và một số nơi khác, chủ yếu dùng công nghệ thủ công với các lò ấp được xây bằng gạch ở trong nhà. Dùng trấu, thóc rang để giữ nhiệt hun cho trứng vịt chuyển thành bào thai (vịt lộn) hoặc ấp nở thành vịt giống.
Ngày nay, với công nghệ hiện đại, các lò ấp đã sử dụng máy ấp công nghệ rơ-le điện tử. Số lượng trứng ấp trong lò này nhiều hơn, độ chính xác cao hơn, lãi lớn hơn.
Đại Xuyên (Phú Xuyên - Hà Nội) được coi là "đại bản doanh" của vịt, ngan giống. Nơi đây có hàng trăm lò ấp, vịt giống, vịt lộn cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh. ông Nguyễn Văn Hùng, một chủ lò ấp trứng cho biết: Nghề ấp trứng cho thu nhập cao nhưng cũng lắm rủi ro, bấp bênh. Quả trứng lộn thương phẩm có tuổi thọ không dài, chỉ ngon từ độ 17-22 ngày trong quy trình ấp nở.
Bởi vậy, giá trứng luôn luôn trồi sụt không ngừng theo thời tiết. Ngày nắng ráo, lượng tiêu thụ lớn, giá trứng lộn có thể nhảy vọt đến 2.500 đồng/trứng và các lò ấp không đủ hàng để cung cấp cho các thương lái. Tuy nhiên, mỗi khi trời sụt sùi mưa bão thì nhà lò chỉ còn nước bán đổ bán tháo trứng với giá rất thấp.

Lò ấp đang kiểm tra trứng.
Chính vì lẽ đó, các chủ lò ấp đã nghĩ ra nhiều cách để bảo quản trứng. Vào hè, nắng nóng, nhiệt độ cao, trứng non rất nhanh hỏng và trứng già sẽ nở thành con. Khi chúng tôi nói cũng muốn mua nhiều trứng lộn cung cấp cho một số quán ở Hà Nội, mỗi ngày khoảng 800-1.000 quả thì ông Hùng mừng lắm.
Tuy nhiên, với thời tiết như hiện nay, nếu giao trứng không hết, để lại dễ hỏng lắm. Thấy chúng tôi còn băn khoăn, chị Nguyễn Thị Là, một công nhân làm thuê khoe luôn: "Lo gì, thời tiết nào chẳng có cách bảo quản. Cứ luộc lên, cho vào hộp lạnh, người bán đem ra luộc lại, khách đố mà biết được. Giữ như vậy được cả tháng...".
Qua tìm hiểu ở nhiều chủ lò, chúng tôi được biết cách phổ biến là các chủ lò trứng luộc lên rồi để lạnh, sau đó giao trứng giá hạ hơn cho người mua về luộc bán lẻ. Ham lời nên không ít hàng trứng lẻ vẫn lấy trứng luộc trước về luộc lại để bán. Số lượng trứng vịt lộn luộc này khá nhiều, bởi hiện nay không trúng vào vụ nuôi vịt. Thậm chí, với những lò ấp vịt nở, số trứng loại ra do bị hỏng ở từng giai đoạn vẫn có người mua với giá bằng 80% trứng nhập vào lò.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Lâm (Viện Dinh dưỡng Trung ương) cho biết: Người ăn trứng vịt lộn luộc lại sẽ dễ bị chướng bụng, đầy hơi, có thể gây đau bụng. Khi trứng đã luộc mà công tác bảo quản không được tốt rất có thể khiến các vi khuẩn xâm nhập vào, người sử dụng sẽ bị ảnh hưởng đến sức khoẻ.
Chuyện bảo quản trứng vịt lộn vẫn còn là những bí mật của các chủ lò và thương lái.
Tình cờ tôi biết cô Nguyễn Thị Hồng, người bỏ nghề ấp trứng đi làm giúp việc kể lại: Ngày ấy, cô còn làm trong lò ấp trứng ở Nguyên Khê (Đông Anh). Mỗi một mẻ trứng vịt lộn ra lò, nếu được thương lái lấy luôn chỉ xếp hàng vào thúng là xong. Nhưng những ngày ế ẩm, trứng đã ra lò, thường được chủ lò ngâm vào một thùng nước pha hoá chất gì đó.
Thứ nước đó sờ tay vào thấy nhớt như xà phòng, mùi hơi hắc. Khi lấy trứng ra, người làm phải đeo găng tay nếu không tay sẽ bị khô nứt. Cô Hồng bảo, ngâm như vậy có thể để trứng thêm được 4-5 ngày, đảm bảo nếu lô trứng chưa bán kịp sẽ không bị nở con hoặc ung hỏng. Không biết việc ngâm hoá chất có độc hại gì không, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, sau khi không còn làm ở lò ấp, cô Hồng cũng không dám ăn trứng vịt lộn.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Lâm (Viện Dinh dưỡng Trung ương) cho biết: Người ăn trứng vịt lộn luộc lại sẽ dễ bị chướng bụng, đầy hơi, có thể gây đau bụng. Khi trứng đã luộc mà công tác bảo quản không được tốt rất có thể khiến các vi khuẩn xâm nhập vào, người sử dụng sẽ bị ảnh hưởng đến sức khoẻ.
Trứng hỏng, vịt chết vẫn chạy hàng
Trước thông tin Trung Quốc có công nghệ sản xuất trứng vịt lộn bằng gà vịt chếởt, trứng ung, thối thì người tiêu dùng Việt Nam cũng thấy hoang mang, mặc dù đã có thông tin khẳng định loại trứng vịt lộn rởm này chưa vào Việt Nam. Theo các chuyên gia thị trường, việc hàng mang loại "hàng" này từ Trung Quốc sang Việt Nam cũng không khả thi vì chi phí bảo quản và vận chuyển không rẻ, lợi nhuận không đủ hấp dẫn thương lái vào cuộc. Tuy nhiên, nhiều người lo ngại "công nghệ" của Tàu lây sang mình nhanh lắm...
Theo cô Hồng thì các lò ấp không bao giờ phải bỏ thứ gì. Trứng ung cũng có người mua, vịt chết cũng bán, số lượng bao nhiêu thương lái cũng mua. Cô kể lại, ngày còn làm ở lò ấp, món ăn thường ngày của công nhân là trứng vịt lộn luộc, rán giòn và vịt bao tử tẩm ướp rán. Nói là vịt bao tử cho sang thôi, thực chất nó là những con vịt con bị loại vì những khuyết tật, không đủ sức khoẻ để xuất cho người nuôi. Những con vịt này bị cho vào chậu nước nóng già, một lát sau cho đũa vào quấy lên, lông tơ rơi ra hết. Lấy tay bóp nhẹ ruột, cho húng lìu, gia vị, lá chanh... vào ướp một lát cho lên bếp rán giòn là thành món thơm ngon, hấp dẫn!
Số vịt con chết chủ lò cũng không phải bỏ đi một con nào. Cứ 200-300 đồng một con nhặt thành từng hộp, ghi số lượng có người mua hết. Ban đầu thương lái cứ đến mua cả lông đóng hộp xốp mang đi, sau này, cánh cô Hồng lại phải cho vào nước sôi, giũa lông đóng hộp giữ lạnh. Khi được số lượng kha khá thì thương lái đến mua. Mãi về sau, cô Hồng mới biết, số vịt chết ấy người ta mang đi chặt đầu, chặt mỏ tẩm ướp để bán ra ngoài cho người tiêu dùng với cái tên mới: chim sẻ đồng.
Hiện nay, với sự cảnh báo của báo chí, món "chim sẻ đồng" rán vàng rộm giá 2.000 đồng/con không còn dễ dàng đánh lừa được người tiêu dùng. Vậy nhưng, các lò ấp vẫn tiêu thụ hết các loại phế phẩm, điều này khiến không ít người thắc mắc, lo lắng về khả năng xuất hiện thêm một công nghệ quay vòng phế phẩm để tiếp tục đánh lừa người tiêu dùng.
Nhiều món khoái khẩu được làm từ trứng vịt lộn như trứng vịt lộn rang me, trứng vịt lộn chiên giòn...,người ăn chỉ biết đĩa thực phẩm mang ra thơm phức, ai biết được nó được làm bằng trứng tươi hay trứng rởm?
Jo Kwon kết đôi với Ga In
Thứ tư, tháng bảy 28, 2010
0
comments
Cặp đôi của chương trình thực tế 'We Got Married' vừa 'thành vợ thành chồng' trong bộ ảnh cưới thật cá tính và 'xì tin' tại hòn đảo Bali xinh đẹp, chụp cho tạp chí InStyle số mới.











Vài nét về chương trình "We Got Married":
"We Got Married" là show truyền hình thực tế rất được yêu thích tại Hàn Quốc hiện nay. Trong chương trình, những nghệ sĩ được lựa chọn sẽ thành đôi và thể hiện cách ứng xử qua các tình huống khác nhau của cuộc sống vợ chồng. Hai người sẽ đi trăng mật, chụp hình cưới, sau đó là sống cùng nhà, cùng làm việc, học tập… trong một khoảng thời gian ngắn. Cho đến nay, nhiều cặp nghệ sĩ đã cống hiến cho khán giả những phút giây rất thú vị trong cuộc sống "vợ chồng hờ" của họ, ví dụ Jo Kwon của 2AM và Ga In của Brown Eyed Girls, Seo Hyun của SNSD và Yong Hwa của CNBLUE, hay Victoria của F(x) và Nickhun của 2PM...











Vài nét về chương trình "We Got Married":
"We Got Married" là show truyền hình thực tế rất được yêu thích tại Hàn Quốc hiện nay. Trong chương trình, những nghệ sĩ được lựa chọn sẽ thành đôi và thể hiện cách ứng xử qua các tình huống khác nhau của cuộc sống vợ chồng. Hai người sẽ đi trăng mật, chụp hình cưới, sau đó là sống cùng nhà, cùng làm việc, học tập… trong một khoảng thời gian ngắn. Cho đến nay, nhiều cặp nghệ sĩ đã cống hiến cho khán giả những phút giây rất thú vị trong cuộc sống "vợ chồng hờ" của họ, ví dụ Jo Kwon của 2AM và Ga In của Brown Eyed Girls, Seo Hyun của SNSD và Yong Hwa của CNBLUE, hay Victoria của F(x) và Nickhun của 2PM...
Đăng ký:
Các Bài đăng (Atom)






















